ĐÒN PHONG TỎA (Chương 1 – phần 3)

III. ĐA SỐ CHỐT

Tiếp theo, ta sẽ tập trung phân tích về đa số chốt. Xem hình dưới, ở cánh vua, 2 chốt Đen phải đối chọi với 3 chốt Trắng.

Thông thường thì đa số chốt tốt sẽ tạo nên chốt thông. Lần đầu tiên nhìn vào thế cờ này, đa số độc giả sẽ thấy quá dễ thắng. Đúng là thế cờ này rất đơn giản, nhưng tôi xin phép sử dụng để minh họa cho một nguyên tắc bất di bất dịch. Nguyên tắc chiến thắng rất đơn giản: Trong số 3 chốt Trắng ở cánh vua, hiện tại chưa có quân nào là chốt thông, nhưng rõ ràng có một quân ít bị cản trở hơn cả. Đúng vậy, đó là chốt f; ít nhất nó không có quân chốt đối phương nằm trên cùng cột, và dễ thấy vì sao nó trở thành ứng viên sáng giá cho nhiệm vụ làm chốt thông sau này. Ta sẽ tạm trao danh hiệu Ngài Ứng Viên cho anh chốt này. Từ đây ta có một nguyên tắc nhỏ: Ngài Ứng Viên luôn được ưu tiên.

Nói cách khác, quân chốt làm ứng viên phải tiến lên trước tiên, những quân chốt khác đi theo hỗ trợ. Ví dụ ở đây, trước hết là f2-f4-f5, rồi g2-g4-g5 và f5-f6. Trong trường hợp Đen đưa quân đến g6 và h5 (xem hình dưới) thì f4, g3 (dĩ nhiên không đi h3 vì Đen chỉ cần h4 là toàn bộ quân Trắng bế tắc), h3, g4 và f5. Quá đơn giản!

Thế nhưng, nhiều kì thủ mới tập chơi khi gặp thế cờ như hình đầu tiên vẫn có xu hướng đẩy chốt g trước tiên. Thế là Đen đi g7-g5 ngay, khiến cho đa số chốt của Trắng hóa vô giá trị. Tôi hay tự hỏi tại sao những kì thủ mới chơi hay chọn đi nước g4 trước, và phát hiện ra là nguyên do rất đơn giản: Họ không chắc phải bắt đầu đi bên trái (f4) hay bên phải (h4), thế là họ quyết định đi quân ở giữa.

Tiếp theo ta sẽ xem qua sự phức tạp cao độ khi phải chống cự trước một đa số chốt.

1. Đối đầu với đa số chốt

Từ nguyên tắc tôi vừa nêu ở trên, ta có thể có một cách chống lại sự hình thành Chốt thông khi phải phòng thủ trước đa số chốt: đó là tìm cách tạo áp lực lên Ngài Ứng Viên để nó không thể di chuyển được nữa. Một khi đã đẩy lùi được Ngài Ứng Viên (bằng cách buộc những quân chốt hỗ trợ khác phải tiến lên phía trước), thì chuyện phong tỏa hoàn toàn Ngài Ứng Viên lừng lẫy một thời giờ đã quá dễ dàng. Không sớm thì muộn, Ngài Ứng Viên cũng sẽ ngã ngựa thôi.

Tôi sẽ lấy một ván đấu của tôi với Tartakower ở giải Copenhagen Six Master 1923 để làm ví dụ:

Tiếp theo ta sẽ nhảy ngay đến vấn đề phòng thủ trước đa số chốt trung tâm mà không đi sâu vào các vấn đề về “đa số chốt” khác (nếu không thì quyển sách này sẽ dày vô tận mất).

Khi gặp đa số chốt trung tâm, ta cũng phải dè chừng ý đồ tạo chốt thông của đối thủ. Ngoài ra, ta còn phải lo phòng hờ các cuộc tấn công vào vua đã nhập thành (trung tâm là vũ khí tấn công lợi hại!). Bên có đa số chốt trung tâm có thể nêm chặt trung tâm, hoặc mở các cột hay đường chéo, hoặc làm giảm sự cơ động của bên phòng thủ. Các thế cờ sau rất điển hình cho vấn đề này.

Thế cờ 1:

Trắng vừa đe dọa tạo chốt thông (bằng cách đẩy e6), vừa đe dọa nêm chặt Đen với f6. Nếu Đen đáp trả f6 bằng g6, đòn nêm của Trắng ngay lập tức khiến quân vua Đen trong thành mất liên lạc với quân chủ lực. Toàn bộ hàng ngang 7 bị chặn (xe Đen không thể bảo vệ g7 và h7 nữa). Để tránh bị nêm, Đen phải chơi f6. Khi đó Trắng sẽ tạo chốt thông với e6 và chiếm ưu thế vị trí rất lớn.

Như đã nói trước, tôi sẽ chỉ điểm qua những “diễn viên” quan trọng nhất vở diễn mà thôi. Nếu có thêm các quân khác trên bàn cờ, chốt Đen sau khi đẩy f6 sẽ có thể trở thành mục tiêu tấn công, làm mở toang cột g (g2-g4-g5). Rõ ràng là Đen lẽ ra không nên để Trắng đưa tận 2 Chốt lên hàng 5. Các quân chốt này lẽ ra phải bị chặn đứng ngay từ hàng 4.

Thế cờ 2:

Hình ở trên cũng chỉ thể hiện các quân cờ quan trọng trong thế cờ (các quân khác không được thể hiện ra). Đen có vẻ như đã cố định được Ngài Ứng Viên e4. Không đẩy được e4-e5, Trắng quyết định “hy sinh” thế đa số chốt bằng nước f5. Lúc này, mã hai bên sẽ đóng ở e5 và e6. Khi bàn cờ còn nhiều quân khác, quân mã ở e6 có thể khởi nguồn một đợt tấn công mạnh mẽ. Tuy nhiên, về mặt thế trận, Đen vẫn ổn. Quân mã phong tỏa ở e5 rất mạnh (bạn có thể xem lời giải thích ở lý do phải phong tỏa chốt số (2) ở trên). Quân mã này ngăn chặn đường tấn công của Trắng, ví dụ như chặn hậu lên g4, xe lên f3…

Ta đã thấy trong mọi cuộc chiến chống lại đa số chốt, bước đầu tiên luôn là chặn đường bầy chốt rồi kết thúc bằng phong tỏa hoàn toàn.

Ham muốn ngăn chặn chốt cơ động là dễ hiểu; tuy nhiên thật khó hiểu khi phải phong tỏa chốt dù quân chốt ấy kém cơ động trong một số trường hợp. Ta thường thấy nhu cầu phong tỏa chốt kém cơ động này trong những trận đấu mà chốt bị trở thành mục tiêu tấn công.

Tôi sẽ đưa ra 4 ví dụ minh họa. Cả 4 ví dụ này đều nằm trong giải đấu gần đây nhất của tôi, Giải Nordic Master vào tháng 8/1924 ở Copenhagen. Giải có sự tham gia của Johner—người đã đứng trên cả Rubinstein và Teichmann ở Berlin; Allan Nilsson; lý thuyết gia thiên tài—tiến sĩ Krause; nhiều kiện tướng trẻ như Kinch, Kier… Tôi đã rất thành công khi đạt 9,5/10 điểm. Tôi tin rằng chiến thắng này của tôi phần nhiều là nhờ hiểu biết về bản chất của đòn phong tỏa! Rõ ràng tôi cũng không thể giải quyết hết các tình huống khó, nhưng hiếm khi tôi phải bó tay.

Ở ván 2, tôi gặp kiện tướng Giersing và gặp thế cờ sau:

Quân số của Trắng có vẻ như không bù đắp được việc mất tượng, nhưng vị trí chiến lược của Trắng quá tốt đến nỗi nhìn chung thì họ ưu thế lớn. Ngoài quân chốt thông được bảo về ở e5 và quân vua mạnh nằm ngay trung tâm, thì Trắng còn hơn Đen ở vị trí quân xe. Xe Đen phải dính chặt với quân Chốt của mình, coi như đi tù chung thân. Tôi đã sử dụng một chuỗi các nước phối hợp để thắng, tuy không phải là cách đi tốt nhất. Để phục vụ nội dung quyển sách, ta sẽ chỉ lướt nhanh diễn biến thế cờ này trước khi xem cách đánh thắng tối ưu.

Ván cờ thực tế đã tiếp tục như sau:

Tuy nhiên, trước đó Trắng có thể thắng dễ ở nước 58 với Rh6, phong tỏa chốt Đen. Hãy quay lại thế trận ban đầu và phương án đánh tốt hơn:

Ví dụ tiếp theo minh họa cho sự uyển chuyển của quân phong tỏa.

Ví dụ tiếp theo sẽ cho ta thấy, nếu không phong tỏa chốt kịp thời, quân ta sẽ bị “bỏ tù” ngay.

ĐÒN PHONG TỎA (Chương 1 – phần 2)

II. CHỐT THÔNG

Tiếp theo ta sẽ nghiên cứu một kiểu chốt khác, một kiểu chốt cực kì cơ động: chốt thông. Tuy về dài hạn thì việc ngăn chặn bầy chốt trung tâm như đã nói ở trên khá là khó khăn, nhưng chốt thông lại dễ phong tỏa hơn nhiều. Trong bất cứ trường hợp nào, nguyên tắc đối phó với chốt thông vẫn luôn đơn giản hơn. Tại sao lại như vậy? Là thế này, trung tâm chốt chỉ là một dạng của “đa số chốt.” Về lý thuyết mà nói, một khi đã nghiên cứu về đặc tính của đa số chốt ở trung tâm, ta cũng phải nghiên cứu về đa số chốt ở bên cánh. Giả sử ta chỉ quan tâm đến đa số chốt ở trung tâm đi nữa, thì muốn biết cách phong tỏa bầy chốt trung tâm, ta cũng phải nghiên cứu một chuỗi các vấn đề phức tạp, cụ thể:

(1) Đa số chốt có đặc tính như thế nào?

(2) Chốt thông thường được tạo ra từ đa số chốt như thế nào?

(3) Phải phòng thủ như thế nào khi gặp đa số chốt?

(4) Nguyên nhân nào tạo nên sức mạnh của đa số chốt trung tâm?

(5) Các biện pháp nào hiệu quả nhất khi gặp đa số chốt trung tâm?

Trước khi có thể trả lời toàn bộ các câu hỏi trên, ta phải nghiên cứu kĩ hơn về chốt thông, bởi chốt thông chính là kết tinh của đa số chốt. Hiểu rõ chốt thông sẽ giúp ta vận dụng uyển chuyển, linh hoạt hơn khi phải giải quyết các câu hỏi phức tạp về đa số chốt.

Như đã nói ở phần đầu, hầu như ai cũng biết rằng phải chặn đứng được chốt thông, dù chưa có nền tảng lý thuyết rõ ràng nào chống lưng cho tư tưởng này. Tôi đã tìm ra một lý thuyết nền tảng, và dù tôi đã định không công bố khám phá đó trước khi xuất bản quyển My System (Hệ thống của tôi), nhưng tôi sẽ tiết lộ ngay trong quyển sách này. Có ba lý do phải phong tỏa chốt thông:

1. Chốt thông vô cùng nguy hiểm, chỉ ngăn chặn từ xa là chưa đủ.

Xét thế cờ có chốt thông điển hình dưới đây:

Đen có một chốt thông. Quân chốt thông này là niềm tự hào của Đen, và vì vậy, rất tự nhiên, Đen điều quân bảo vệ chốt thông này (Nf6, Bb7) và hỗ trợ từ xa (Rd8).

Giờ câu hỏi đặt ra là: Liệu nên ngăn chặn từ xa bằng Nb3 và Bf2, hay phải phong tỏa luôn bằng Nd4?

Câu trả lời: Khi đối diện với tham vọng bành trướng của chốt thông, chỉ ngăn chặn từ xa là chưa đủ, bởi thông thường quân chốt thông như thế này vẫn sẽ tiếp tục tiến bước khi có cơ hội, dù đôi khi nó phải hy sinh cả bản thân mình vì nghĩa lớn. Ví dụ, quân chốt Đen vẫn sẽ đi d4. Sau khi Trắng ăn chốt, thì toàn bộ quân Đen làm nền phía sau bỗng nhiên sống dậy: Bb7 có nguyên đường chéo mở hướng thẳng vào vua đối phương, quân xe thì có ngay cột mở, và quân mã có thêm một ô trung tâm để ngự. Ta đã bàn sâu về xu hướng tiến quân cảm tử này (để tạo cột mở) ở phần trước (mục b). Đây là một đặc trưng thú vị của quân chốt.

Như vậy, lý do thứ nhất phải phong tỏa chốt là: quân chốt thông—như tôi hay nói đùa—là một tay tội phạm nguy hiểm, và chỉ phân bổ cảnh sát trông chừng từ xa (Nb3 và Bf2) là chưa đủ. Không, tên tội phạm này phải vào tù. Phải tước hết tự do của hắn bằng cách phong tỏa với Nd4.

2. Ô phong tỏa thường rất an toàn.

Lý do thứ hai phải phong tỏa chốt chính là tư tưởng tối ưu hóa ưu thế nhỏ. Trên phương diện chiến lược, ván cờ luôn được quyết định từ những ưu thế nhỏ. Ngay từ đầu, ta nên luyện ngay tư tưởng trân trọng các ưu thế mình có được dù nhỏ đến thế nào. Người mới tập chơi chỉ vui khi chiếu hết được đối phương, hoặc ít nhất là bắt được hậu (vì trong mắt người mới tập chơi, chỉ khi lời hậu trở lên thì ưu thế mới rõ ràng). Người chơi chuyên nghiệp phải khác. Ta phải thấy vui khi tìm được một mắt xích kém trong cấu trúc chốt đối phương ở trong góc khuất bàn cờ! Tư tưởng tối ưu hóa chính là nền tảng cơ bản nhất của phong cách chơi theo vị trí chiến lược. Và cũng chính tư tưởng tối ưu hóa này là thứ giúp ta có sức mạnh tìm ra được những tia hy vọng dù nhỏ nhoi trong những tình huống ngặt nghèo nhất. Ví dụ, đối diện với chốt thông quả thực chẳng khác nào đang phải đối diện với một con quỷ nhỏ. Nhưng ngay cả con quỷ đôi khi cũng đem lại lợi ích. Khi phong tỏa chốt thông, ta đồng thời cũng nấp đằng sau quân chốt này. Nói cách khác, quân phong tỏa sẽ vô cùng an toàn, không hề sợ tấn công vỗ mặt. Ví dụ:

Chốt thông của Đen ở e4. Quân phong tỏa—Ne3—không hề sợ xe Đen. Nói cách khác, mã Trắng an toàn.

Nên chú ý rằng quân phong tỏa, ngoại trừ nghĩa vụ khó chịu là phải phong tỏa chốt đối phương, thì nhìn chung thường có vị trí đứng rất tuyệt vời. Nếu không có ưu điểm này, rõ ràng việc bỏ một quân đứng cố định chỉ để canh chừng chốt đối phương là lãng phí vô cùng. Trên thực tế, những ô phong tỏa lại thường là các vị trí đóng quân rất hấp dẫn:

(1) Quân đối phương không tấn công vỗ mặt được.

(2) Ô phong tỏa cũng thường là ô tiền đồn, đóng quân rất vững.

(3) Quân phong tỏa vẫn có đủ sự cơ động để di chuyển sang mặt trận khác khi cần thiết.

Hình dưới đây (trích ván A. Nimzowitsch – A. Nilsson) biểu diễn sự cơ động này, đồng thời cũng cho thấy ô phong tỏa cũng là ô tiền đồn.

Trong Khai cuộc Gambit Hậu, Đen thường có chốt cô lập d5. Dù nó vẫn còn phải dè chừng chốt Trắng ở e3, nhưng ta cũng có thể xem nó phân nửa là chốt thông. Tham vọng bành trướng của chốt d5 rất lớn, hơn nữa quân chốt này lại nằm ở trung tâm. Vậy d4 là ô phong tỏa. Giờ đây Trắng có cột d và một ô tăng cường rất mạnh: ô d4.

Ta nên dùng quân đặt ở các ô tăng cường để biến nó thành tiền đồn. Rõ ràng, ô d4 giờ đây hóa ra rất quan trọng về mặt chiến lược.

3. Đòn phong tỏa chốt tạo ảnh hưởng lớn đến toàn cục diện trận đấu.

Người ta hay nghĩ rằng phong tỏa chốt chỉ gây ảnh hưởng cục bộ: Chốt đối phương bị chặn đứng, và chỉ quân chốt đó bị ảnh hưởng mà thôi. Ý tưởng này hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế, một bộ phận lớn quân đối phương chịu ảnh hưởng từ phong tỏa—một phần lớn bàn cờ đối phương bị khống chế không thể điều chuyển tự do. Thậm chí đôi khi toàn bộ một khu vực nào đó của họ bị đóng băng. Nói cách khác, “đòn điểm huyệt” lan từ quân chốt bị phong tỏa đến cả bộ phận đứng đằng sau. Hình dưới là một ví dụ từ Phòng thủ Pháp.

Chốt e6 và d5 hoàn toàn bị phong tỏa. Đáng chú ý là cả cánh quân phía sau của Đen cũng đều bị đóng băng rất khó chịu. Tượng và xe tự nhốt mình vào tù! Nếu Trắng có chốt thông ở h4, thì coi như ván cờ được định đoạt, dù lực lượng quân khá chênh lệch!

ĐÒN PHONG TỎA (Chương 1 – phần 1)

Trong quyển sách này, phong tỏa nghĩa là dùng quân của mình ngăn chặn bước tiến của quân chốt đối phương. Nói cách khác, ta có thể phong tỏa chốt đối phương bằng cách đặt quân (quân nhẹ, thậm chí là quân nặng) ngay trước chốt đối phương. Ví dụ, trong hình dưới, chốt Đen ở d5 bị phong tỏa bởi mã Trắng ở d4.

Nhiều người—ít nhất là các kiện tướng—có thói quen phong tỏa chốt thông của đối phương; nhưng với hiểu biết của tôi thì chưa có ai nêu ra được nền tảng lý thuyết cho việc này cả. Khi tìm được ra được lý thuyết nền tảng, ta sẽ giải quyết được vấn đề “Phong tỏa.”

Kỳ thủ có thể hiểu rõ hơn vấn đề trên nếu nắm được cách thức hoạt động của quân chốt. Một trong những đặc tính của loại quân này rất dễ thấy: Chốt có tham vọng bành trướng, khát khao tiến như vũ bão về phía trước. Những ván cờ có đa số chốt ở trung tâm minh họa rõ nét nhất cho đặc tính đó: càng tiến xa, chốt càng quan trọng.

I. THAM VỌNG BÀNH TRƯỚNG CỦA QUÂN CHỐT

Để minh họa, ta sẽ nghiên cứu ván cờ dưới đây.

Ta dừng ở đây một chút để phân tích:

Trận đấu nhỏ này không chỉ thể hiện tham vọng tiến công và bành trướng lãnh thổ, mà còn cho ta thấy sức mạnh của chốt tiến xa. Nếu Đen đi Nb8 hoặc Na5, quân mã này hoặc là phải lùi về chỗ cũ, hoặc là đứng sai chỗ. Hãy chú ý những điểm sau:

(a) Tiến chốt một phần là để vô hiệu hóa hoặc giảm sự cơ động của quân đối phương.

(b) Dâng chốt ồ ạt thường đi cùng ý định thí bỏ các quân chốt này. Bạn có thấy gần như là tự tử tập thể không? Về bản chất, chốt cũng là một quân ngáng đường, nó chặn nước tiến công của chính quân mình. Chốt lấp đi con đường xâm nhập lãnh thổ đối phương. Do đó, cùng với việc tiến công, nó cũng phải tự hủy diệt bản thân để đổi lấy sức mạnh cho toàn quân. Tóm lại, quân chốt sẽ tự hy sinh để nhường cột mở (hoặc đường chéo) cho các quân khác (xe chẳng hạn) đang “neo đậu” ở lãnh thổ quân mình và chờ cơ hội xâm nhập lãnh thổ đối phương.

(c) Khi tiến chốt, ta có cơ hội khóa quân đối phương bằng chốt tiến xa.

Trận đấu tiếp tục như sau:

Tóm lại, nguyên lý cơ bản về việc tiến chốt ở trung tâm là:

(a) giảm sự cơ động của quân đối phương;

(b) mở các cột mở và đường chéo cho quân mình;

(c) vô hiệu hóa đối phương bằng các vị trí nêm (khóa quân đối phương).